CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN; VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Tiêu đề:      CƠ CHẾ THẦU PHỤ TRONG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN; VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Mục:      Đề tài cấp Cơ sở
Tác giả:      Phí Hồng Minh
Mã tài liệu:      NA
Nhà xuất bản:      Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
Năm xuất bản:      2013
Số trang:      45
Ngôn ngữ:      Tiếng Việt
Đánh giá:      0 
Mô tả nội dung:     

1. Tổng quan khái niệm thầu phụ và công nghiệp hỗ trợ

Sau Chiến tranh Thế giới II, Nhật Bản thừa hưởng một nền kinh tế hậu chiến đình trệ nhưng cả dân tộc Nhật bấy giờ lại đầy ham muốn mãnh liệt để có thể xây dựng được những cơ chế tạo tiền đề cho những cú bứt phát mới trong nền kinh tế. Trước bối cảnh đó, nước Nhật cũng chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà kinh tế Mác xít với mong muốn xây dựng một cơ chế hài hòa cùng chia sẻ lợi ích giữa các công ty lớn nhiều tiềm lực tài chính và các công ty vừa và nhỏ (SMEs) yếu về tài chính song lại thâm dụng nhiều nhân công (Kimura, 2002). Chính vì vậy, trong giai đoạn đầu của tăng trưởng nhanh đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ thầu phụ (subcontracting relationships) giữa các doanh nghiệp lớn và SMEs nhằm tạo một hệ thống dọc bền vững hài hòa tạo tiền đề cho giai đoạn tăng trưởng nhanh của Nhật Bản. 

Mặc dù trên thực tế tồn tại nhiều định nghĩa về thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ” song theo định nghĩa của Sách trắng kinh tế của Nhật Bản năm 1985 thì khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” thường được hiểu như là việc các công ty/doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tham gia sản xuất các linh kiện và phụ tùng cho các công ty lớn hơn khác trên thị trường. Đến năm 1994, Hiệp hội các doanh nghiệp Hải ngoại của Nhật Bản (JOEA) mới phát triển rộng hơn khái niệm công nghiệp hỗ trợ thành “các ngành công nghiệp cung cấp những gì cần thiết như là các nguyên vật liệu, các linh kiện và phụ tùng cũng như hàng tư liệu sản xuất phục vụ cho các ngành công nghiệp lắp ráp và nhà sản xuất lớn”. Vì vậy, có thể thấy rằng, ngay từ giai đoạn đầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ có nội hàm cùng với phát triển quan hệ thầu phụ ở Nhật Bản.

 

Hoạt động “thầu phụ” đã được Nhật Bản phát triển từ cuối thập kỷ 1950 và vị thế của các nhà thầu phụ thực sự được cải thiện trong thập kỷ 1960 và 1970. Nhận thấy những thành công của mô hình “thầu phụ” Nhật Bản, Hàn Quốc đã nỗ lực áp dụng cơ chế này từ cuối thập kỷ 1970-đầu 1980 với ba mục đích chính là : i- giảm bớt sự ảnh hưởng lấn át của các doanh nghiệp lớn (chaebol) đang lún sâu vào việc mở rộng các ngành công nghiệp nặng thay thế nhập khẩu, ii- thúc đẩy sự tham gia của SMEs, và iii- song hành với các chính sách dịch chuyển từ thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, do những khác biệt riêng nên Hàn Quốc áp dụng một phiên bản ít phức tạp hơn so với hệ thống thầu phụ theo ngành dọc chặt chẽ của Nhật Bản. Nhờ các chính sách quyết liệt của chính phủ, hoạt động “thầu phụ” ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng từ mức 18,6% doanh thu của SMEs Hàn Quốc đến từ thầu phụ năm 1968, thì con số này đã tăng lên 70% năm 1990 (Kim và Nugent, 1994). 

Từ khóa:      công nghiệp hỗ trợ, Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan
Lượt xem:      1440
Bạn cần phải đăng ký tài khoản và đăng nhập vào hệ thống để có thể DOWNLOAD MIỄN PHÍ bài viết dưới dạng file PDF.

Đánh giá